Tái Phê Chuẩn CCDBG

Đạo Luật Trợ Cấp Phát Triển và Chăm Sóc Trẻ Em (CCDBG) là điều luật (cùng với Mục 418 của Đạo Luật An Sinh Xã Hội) phê chuẩn Quỹ Phát Triển và Chăm Sóc Trẻ Em (CCDF) – nguồn ngân quỹ Liên Bang chủ yếu nhằm giúp đỡ các gia đình lao động có thu nhập thấp trang trải chi phí giữ trẻ và cải tiến chất lượng dịch vụ giữ trẻ. Chương trình CCDF giúp đài thọ dịch vụ giữ trẻ cho hơn 1.4 triệu trẻ em hàng tháng trên toàn Hoa Kỳ, các lãnh thổ của Hoa Kỳ, và các cộng đồng bộ tộc. Hàng triệu người khác được hưởng lợi từ các chương trình đầu tư huấn luyện giáo viên, các chương trình giữ trẻ đáp ứng tiêu chuẩn cao hơn và giáo dục người tiêu dùng nhằm giúp các phụ huynh lựa chọn dịch vụ giữ trẻ đáp ứng được nhu cầu của gia đình họ.

CCDBG lần đầu tiên được ký thành luật vào năm 1990 và lần gần đây nhất được tái phê chuẩn vào năm 1996 trong khuôn khổ cải tổ phúc lợi. Thẩm quyền của chương trình hết hạn vào năm 2002, tuy nhiên nguồn ngân quỹ vẫn tiếp tục chủ yếu duy trì qua quy trình phân bổ ngân sách hàng năm.

Tái Phê Chuẩn CCDBG (2014)

Đạo Luật Trợ Cấp Phát Triển và Chăm Sóc Trẻ Em ban hành năm 2014 được ký thành luật vào ngày 19 tháng Mười Một, 2014. Điều luật này tái phê chuẩn chương trình giữ trẻ lần đầu tiên kể từ năm 1996 và là sự điều chỉnh tầm nhìn lịch sử đối với chương trình CCDBG. Điều luật mới đã áp dụng các thay đổi quan trọng so với phiên bản trước đây, trong đó bao gồm xác định các yêu cầu về bảo vệ sức khỏe và an toàn đối với các cơ sở giữ trẻ, đề ra các chính sách về tình trạng hội đủ điều kiện theo hướng có lợi cho gia đình, và bảo đảm các phụ huynh cũng như công chúng có thông tin minh bạch về các lựa chọn dịch vụ giữ trẻ hiện có sẵn.

Tái phê chuẩn không chỉ gia hạn thẩm quyền và nguồn ngân quỹ cho chương trình CCDF đến hết năm 2020, mà còn thực hiện các thay đổi luật quan trọng nhằm cân bằng tốt hơn các mục đích của CCDF: khuyến khích khả năng độc lập kinh tế của các gia đình bằng cách cung cấp dịch vụ giữ trẻ hợp túi tiền hơn, đồng thời khuyến khích trẻ em phát triển lành mạnh cũng như thành công trong học tập qua cải tiến chất lượng tổng thể của các chương trình mầm non và sau giờ học.

CCDBG 2014: Tóm Tắt Bằng Ngôn Ngữ Dễ Hiểu về các Thay Đổi Luật

Các Yêu Cầu về Sức Khỏe và An Toàn đối với các Cơ Sở Cung Cấp Dịch Vụ Giữ Trẻ
  • Yêu cầu các tiểu bang phải đề ra các quy định về bảo vệ sức khỏe và an toàn trong 10 mặt khác nhau (chẳng hạn như ngăn ngừa hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (SIDS), sơ cứu, và CPR (hồi sức tim phổi)).
  • Các cơ sở cung cấp dịch vụ giữ trẻ phục vụ các trẻ em được nhận trợ cấp thông qua chương trình Quỹ Phát Triển và Chăm Sóc Trẻ Em (CCDF) phải được huấn luyện trước khi cung cấp dịch vụ và huấn luyện thường xuyên về các đề tài này.
  • Yêu cầu các tiểu bang tiến hành xác minh lý lịch tội phạm đối với tất cả các nhân viên giữ trẻ, bao gồm cả các nhân viên không trực tiếp chăm sóc các trẻ em nhưng có thể tiếp xúc với trẻ em mà không có người giám sát, và xác định rõ các hành động phạm tội khiến nhân viên không hội đủ điều kiện cung cấp dịch vụ giữ trẻ.
  • Yêu cầu các Tiểu Bang chứng nhận các cơ sở giữ trẻ sẽ tuân thủ các yêu cầu báo cáo hành động ngược đãi trẻ em.
  • Yêu cầu các Tiểu Bang tiến hành thanh tra trước khi cấp phép và các đợt thanh tra không báo trước hàng năm đối với các cơ sở CCDF được cấp giấy phép hoạt động và các đợt thanh tra hàng năm đối với các cơ sở CCDF được miễn giấy phép.
  • Các Tiểu Bang phải đề ra các yêu cầu về trình độ năng lực và thiết lập chương trình huấn luyện cho các thanh tra viên cấp phép và duy trì tỷ lệ thanh tra viên – cơ sở cung cấp dịch vụ thích hợp.
  • Yêu cầu các tiểu bang phải có các tiêu chuẩn đối với các cơ sở cung cấp dịch vụ CCDF về giới hạn sĩ số nhóm và tỷ lệ trẻ em – cơ sở giữ trẻ thích hợp dựa trên độ tuổi của các trẻ em tham gia chương trình giữ trẻ.
  • Yêu cầu lập kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với tình huống khẩn cấp và các chương trình khắc phục thảm họa trên toàn tiểu bang cho dịch vụ giữ trẻ.
Thông Tin Minh Bạch về Giáo Dục Người Tiêu Dùng và Cơ Sở Cung Cấp Dịch Vụ
  • Tiểu Bang phải cung cấp thông tin dành riêng cho các cơ sở cung cấp dịch vụ, dễ tiếp cận trên các phương tiện điện tử, trong đó cho biết kết quả các báo cáo thanh tra giám sát, cũng như số trường hợp tử vong, thương nặng, và các trường hợp ngược đãi trẻ em nghiêm trọng xảy ra tại các cơ sở giữ trẻ hàng năm.
  • Yêu cầu các Tiểu Bang phải có một website mô tả các quy trình cấp phép và giám sát các cơ sở giữ trẻ, các quy trình tiến hành xác minh lý lịch phạm tội, và các tội khiến cho người vi phạm không thể cung cấp dịch vụ giữ trẻ.
  • Đài thọ chi phí lập và duy trì một website toàn quốc nhằm phổ biến thông tin giáo dục người tiêu dùng, cho phép tìm kiếm theo số zip code và giới thiệu đến các cơ sở giữ trẻ địa phương, cũng như một đường dây khẩn toàn quốc để báo cáo các hành động ngược đãi và bỏ bê trẻ em.
Các Chính Sách về Tình Trạng Hội Đủ Điều Kiện Theo Hướng Có Lợi Cho Các Gia Đình
  • Thiết lập giai đoạn tái xét tình trạng hội đủ điều kiện thời hạn 12 tháng cho các gia đình CCDF, bất kể các thay đổi về thu nhập (miễn là thu nhập không vượt quá ngưỡng giới hạn của liên bang là 85% mức thu nhập trung bình của Tiểu Bang) hoặc các thay đổi tạm thời về tham gia các hoạt động làm việc, huấn luyện, hoặc học tập.
  • Cho phép các Tiểu Bang có thể lựa chọn ngừng trợ cấp trước khi tái xét nếu một phụ huynh bị mất việc làm, tuy nhiên vẫn phải tiếp tục trợ cấp trong ít nhất 3 tháng để tạo điều kiện tìm việc làm.
  • Việc tái xét tình trạng hội đủ điều kiện không nên yêu cầu các bậc cha mẹ phải gián đoạn công việc một cách bất hợp lý.
  • Quy định ngừng trả dần trợ cấp cho các gia đình có thu nhập tăng vào thời điểm tái xét, nhưng vẫn thấp hơn ngưỡng giới hạn của liên bang.
  • Yêu cầu các thủ tục ghi danh học cho trẻ em vô gia cư phụ thuộc vào việc hoàn thành chứng từ, và huấn luyện cũng như tiếp cận nhằm khuyến khích tiếp cận các dịch vụ trợ giúp dành cho các gia đình vô gia cư.
Các Hoạt Động nhằm Cải Tiến Chất Lượng Giữ Trẻ
  • • Tăng dần mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho cải tiến chất lượng từ 4% lên 9% trong giai đoạn 5 năm. Ngoài ra, yêu cầu các Tiểu Bang phải chi ít nhất 3% để cải tiến chất lượng trong chăm sóc cho trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi.
  • • Yêu cầu các Tiểu Bang chi ngân quỹ cải tiến chất lượng cho ít nhất 1 trong số 10 hoạt động cải tiến chất lượng cụ thể, trong đó bao gồm phát triển các hệ thống đánh giá chất lượng theo cấp độ và hỗ trợ các dịch vụ giới thiệu tới nơi trợ giúp và nguồn trợ giúp trên toàn tiểu bang.
  • • Yêu cầu đề ra các quy định về phát triển nghiệp vụ và huấn luyện song song với thường xuyên đánh giá tiến độ và huấn luyện hàng năm nhằm nâng cao kiến thức và cải thiện các kỹ năng cho những người cung cấp dịch vụ của CCDF.
  • • Yêu cầu các Tiểu Bang áp dụng các Quy Định Hướng Dẫn về Phát Triển và Giáo Dục Mầm Non, trong đó cho biết những kiến thức mà các trẻ em cần biết và có thể làm được, phù hợp với độ tuổi từ sơ sinh đến khi vào mẫu giáo.
  • • Đưa vào các quy định hướng dẫn về sức khỏe giao tiếp xã hội-cảm xúc của trẻ em, trong đó bao gồm giáo dục kiến thức cho người tiêu dùng và cơ sở cung cấp dịch vụ về các chính sách liên quan đến việc loại trẻ em ra khỏi các chương trình mầm non và học tập cũng như khám tầm soát bệnh về phát triển dành cho các trẻ em có nguy cơ chậm phát triển về nhận thức hoặc thể chất.
Bộ Tộc
  • • Quỹ dự phòng cho bộ tộc: Thiết lập một quỹ dự phòng tối thiểu là 2% (điều luật trước đây quy định tới tối đa 2%) cho các Bộ Tộc.
  • • Điều luật này không cho biết mức độ áp dụng nhiều điều khoản quy định mới này đối với các Bộ Tộc.
Các Quy Định Hướng Dẫn Khác
  • Tiếp Cận Bình Đẳng: Yêu cầu các Tiểu Bang tiến hành một khảo sát ý kiến về mức giá thị trường, hoặc sử dụng một phương pháp thay thế khác, chẳng hạn như mô hình ước tính chi phí, và mô tả cách lập các mức chi trả dựa trên kết quả khảo sát ý kiến hoặc phương pháp thay thế, có lưu ý đến chi phí cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn.
  • Tạo nguồn cung ứng: Các Tiểu Bang phải thiết lập các chiến lược tăng nguồn cung và chất lượng của các dịch vụ dành cho các trẻ em ở những khu vực chưa được phục vụ đầy đủ, trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi, trẻ em khuyết tật, và trẻ em trong môi trường giữ trẻ theo giờ đặc biệt—trong đó có thể bao gồm sử dụng trợ cấp/hợp đồng và lựa chọn khác là hoàn trả chi phí.
  • Các phương thức chi trả cho người cung cấp dịch vụ: : Các Tiểu Bang phải đề ra các chính sách phản ánh các phương thức chi trả thường được chấp nhận dành cho những người cung cấp dịch vụ giữ trẻ, trong đó bao gồm (trong phạm vi khả thi) chi trả lương cho các ngày nghỉ vắng mặt, và hoàn trả chi phí kịp thời cho các dịch vụ giữ trẻ.
  • Quỹ dự phòng về trợ giúp chuyên môn: Thiết lập quỹ dự phòng tới tối đa ½ của 1% cho trợ giúp chuyên môn điều hành chương trình CCDF.
  • Quỹ dự phòng nghiên cứu: Thiết lập một quỹ dự phòng tới tối đa ½ của 1% để tiến hành các hoạt động nghiên cứu và thuyết minh, cũng như các đánh giá định kỳ, đánh giá theo nguồn bên ngoài, hoặc đánh giá độc lập đối với chương trình CCDF.
  • • Giai đoạn lập kế hoạch: Thay đổi giai đoạn Lập Kế Hoạch CCDF từ chu kỳ Lập Kế Hoạch từ 2 đến 3 năm.
  • • Thẩm quyền miễn trừ: Cho phép HHS miễn trừ các điều khoản quy định hoặc các mức phạt trong luật cho tới tối đa 3 năm (với lựa chọn gia hạn 1 năm) theo đề nghị của một tiểu bang xác định có các quy định trùng lặp nên không thể cung cấp hiệu quả các dịch vụ giữ trẻ, các hoàn cảnh đặc biệt, hoặc một giai đoạn kéo dài để cơ quan lập pháp Tiểu Bang ban hành luật áp dụng điều luật này.

(Nguồn: Quản Lý dành cho các Trẻ Em và Gia Đình)